Tư vấn ngay:
Cách chia thừa kế khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình là vấn đề pháp lý tương đối phức tạp, bởi trước khi phân chia di sản, cần xác định những ai có chung quyền sử dụng đất và phần quyền sử dụng đất thuộc về người đã chết. Việc xác định đúng di sản có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền hưởng thừa kế cũng như nghĩa vụ tài sản của những người thừa kế trong phạm vi di sản được nhận.
Vậy khi người để lại di sản qua đời, quyền sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình sẽ được phân chia như thế nào? Trường hợp có di chúc thì thực hiện ra sao, còn nếu không có di chúc thì những ai được hưởng thừa kế theo pháp luật? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ các vấn đề này theo những quy định pháp luật được đề cập.

1. Xác định di sản thừa kế khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
1.1. Điều kiện để Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định:
Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Theo quy định trên, để xác định những người có chung quyền sử dụng đất trong hộ gia đình, cần xem xét các điều kiện liên quan đến quan hệ gia đình, thời điểm hình thành quyền sử dụng đất và việc có quyền sử dụng đất chung.
Cụ thể, cần xem xét các điều kiện sau:
Điều kiện 1: Có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng
Những người có chung quyền sử dụng đất có thể có quan hệ hôn nhân như vợ và chồng; quan hệ huyết thống như cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, ông nội, bà nội với cháu nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; hoặc quan hệ nuôi dưỡng như cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi.
Tuy nhiên, chỉ có quan hệ gia đình không đồng nghĩa với việc đương nhiên có quyền sử dụng đất chung. Cần xem xét đồng thời các điều kiện còn lại theo quy định pháp luật.
Điều kiện 2: Cùng sống chung tại thời điểm hình thành quyền sử dụng đất
Những người được xác định là thành viên có chung quyền sử dụng đất phải đang sống chung tại thời điểm hộ gia đình được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Thời điểm nhận chuyển quyền sử dụng đất có thể là thời điểm nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hoặc nhận thừa kế quyền sử dụng đất.
Điều kiện 3: Có quyền sử dụng đất chung
Những người trong hộ gia đình phải có quyền sử dụng đất chung. Quyền này có thể hình thành từ việc cùng đóng góp, cùng tạo lập hoặc được tặng cho, thừa kế chung theo từng trường hợp cụ thể.
Trên thực tế, việc xác định những ai thực sự có quyền sử dụng đất chung không phải lúc nào cũng đơn giản. Có trường hợp các thành viên cùng sinh sống trong gia đình nhưng không phải tất cả đều có quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang xem xét.
Ngoài ra, trong quá khứ, một số địa phương đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên “hộ ông” hoặc “hộ bà” mà việc xác định thành viên có chung quyền sử dụng đất chưa được thể hiện đầy đủ. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp thừa kế, cần xem xét hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, nguồn gốc đất, thời điểm hình thành quyền sử dụng đất và các tài liệu liên quan để xác định chính xác những người có quyền.
1.2. Cách xác định di sản thừa kế khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Việc xác định di sản thừa kế trong trường hợp Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi không phải toàn bộ diện tích đất ghi trên Giấy chứng nhận đều mặc nhiên là di sản của người đã chết.
Trước khi chia thừa kế, cần xác định phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết trong khối quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình. Phần quyền này mới là căn cứ để xác định di sản thừa kế, trừ trường hợp có căn cứ pháp lý khác cần xem xét.
Việc xác định di sản ảnh hưởng trực tiếp đến:
- Phạm vi tài sản được đưa ra phân chia thừa kế.
- Phần di sản mà mỗi người thừa kế có quyền được hưởng.
- Quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác có chung quyền sử dụng đất.
- Nghĩa vụ tài sản mà người thừa kế phải thực hiện trong phạm vi di sản được hưởng, nếu có.
Để xác định chính xác phần di sản là quyền sử dụng đất, cần căn cứ vào các yếu tố đã nêu, bao gồm điều kiện xác định hộ gia đình sử dụng đất, thời điểm hình thành quyền sử dụng đất chung và các tài liệu chứng minh quyền của từng thành viên.
Trong trường hợp có tranh chấp, việc xác định phần quyền của người đã chết có thể cần xem xét hồ sơ địa chính, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, giấy tờ về nguồn gốc đất và các chứng cứ liên quan.
Sau khi xác định được phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết, mới tiếp tục xác định người được hưởng di sản và cách phân chia theo di chúc hoặc theo pháp luật.
2. Cách chia thừa kế nhà đất theo di chúc khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Nếu người chết để lại di chúc, việc chia thừa kế được thực hiện căn cứ vào nội dung di chúc hợp pháp. Tuy nhiên, trước khi phân chia, vẫn phải xác định chính xác phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết trong khối tài sản chung của hộ gia đình.
2.1. Các hình thức di chúc theo quy định pháp luật
Theo Điều 627, Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc gồm di chúc miệng và di chúc bằng văn bản.
Trong đó, di chúc bằng văn bản gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có công chứng.
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Đối với di chúc miệng, Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Điều 629. Di chúc miệng
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
- Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.
Như vậy, pháp luật quy định nhiều hình thức lập di chúc. Việc xác định di chúc được lập dưới hình thức nào và có đáp ứng điều kiện hợp pháp hay không là căn cứ quan trọng để xác định cách phân chia di sản.
2.2. Điều kiện để di chúc hợp pháp
Căn cứ Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc hợp pháp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
Do đó, khi xảy ra tranh chấp thừa kế nhà đất, không thể chỉ căn cứ vào việc có di chúc để mặc nhiên xác định việc phân chia di sản theo di chúc là hợp pháp. Cần xem xét điều kiện của người lập di chúc, nội dung và hình thức của di chúc theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, đối với Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình, người lập di chúc chỉ có thể định đoạt phần di sản thuộc quyền của mình. Việc xác định phần quyền sử dụng đất của người chết cần được thực hiện trước khi xác định phạm vi tài sản được phân chia theo di chúc.
2.3. Cách chia thừa kế theo di chúc
Căn cứ khoản 2 Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền phân định phần di sản cho từng người thừa kế.
Nói cách khác, phần di sản mỗi người được hưởng phụ thuộc vào nội dung di chúc nếu di chúc hợp pháp và việc phân chia không vi phạm các quy định pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn bảo vệ quyền thừa kế của một số người nhất định, kể cả khi họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn mức luật định.
Những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”
Theo đó, những người thuộc các trường hợp trên vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu đáp ứng điều kiện quy định, dù không được chỉ định hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn mức này.
Quy định này áp dụng đối với:
- Con chưa thành niên của người để lại di sản.
- Cha, mẹ của người để lại di sản.
- Vợ hoặc chồng của người để lại di sản.
- Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.
Tuy nhiên, quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc người không có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật.
Như vậy, khi chia thừa kế nhà đất theo di chúc, cần đồng thời xem xét nội dung di chúc, phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết và quyền hưởng di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
3. Cách chia thừa kế nhà đất theo pháp luật khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc thuộc những trường hợp phải chia thừa kế theo pháp luật, việc xác định người thừa kế và phần di sản mỗi người được hưởng sẽ căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
3.1. Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chia thừa kế theo pháp luật trong các trường hợp sau:
- Không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Ngoài ra, thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với những phần di sản sau:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc.
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật.
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp có di chúc thì toàn bộ di sản đều được chia theo di chúc. Tùy từng trường hợp, một phần hoặc toàn bộ di sản vẫn có thể được phân chia theo pháp luật.
Đối với nhà đất có Giấy chứng nhận đứng tên hộ gia đình, việc xác định phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết vẫn là bước cần thiết trước khi áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật.
3.2. Xác định người được hưởng thừa kế theo pháp luật
Căn cứ Điều 649 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, việc xác định người được hưởng thừa kế theo pháp luật dựa trên diện thừa kế và hàng thừa kế.
Diện thừa kế
Diện thừa kế là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản theo quy định pháp luật.
Quan hệ này có thể bao gồm quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con, ông bà và cháu, anh chị em ruột cùng các quan hệ gia đình khác thuộc phạm vi thừa kế theo pháp luật.
Đối với quan hệ nuôi con nuôi, cần xem xét căn cứ pháp lý xác lập quan hệ nuôi con nuôi theo quy định. Không thể chỉ dựa vào việc một người được gia đình tự nhận là con nuôi trên thực tế để mặc nhiên kết luận người đó có đầy đủ quyền thừa kế như con nuôi hợp pháp trong mọi trường hợp.
Hàng thừa kế
Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hàng thừa kế theo thứ tự sau:
“a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.”
Theo quy định trên, người thừa kế được xác định theo từng hàng thừa kế. Việc một người có quan hệ gia đình với người chết chưa đủ để xác định họ chắc chắn được hưởng di sản; cần xem xét hàng thừa kế, điều kiện hưởng thừa kế và các trường hợp loại trừ theo pháp luật.
Lưu ý về thứ tự hưởng thừa kế
Khoản 3 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Do đó, những người thuộc hàng thừa kế thứ hai chỉ được hưởng thừa kế khi đáp ứng điều kiện luật định liên quan đến hàng thừa kế thứ nhất. Tương tự, người thuộc hàng thừa kế thứ ba chỉ được hưởng thừa kế khi không còn người thuộc hàng thừa kế trước có quyền hưởng di sản theo quy định.
3.3. Những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau
Khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”
Như vậy, khi chia thừa kế theo pháp luật, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau, sau khi xác định đúng phạm vi di sản và những người có quyền hưởng thừa kế.
Trên thực tế, hàng thừa kế thứ nhất thường là hàng cần xem xét đầu tiên khi xác định người hưởng di sản. Những người thuộc hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba chỉ được hưởng khi đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật.
Cần lưu ý rằng nguyên tắc chia đều chỉ áp dụng đối với những người cùng hàng thừa kế có quyền hưởng di sản. Không được lấy toàn bộ diện tích đất ghi trên Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình để chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế khi chưa xác định phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết.
4. Những vấn đề cần lưu ý khi chia thừa kế Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Khi giải quyết việc thừa kế nhà đất có Giấy chứng nhận đứng tên hộ gia đình, cần phân biệt rõ quyền sử dụng đất chung của các thành viên và phần di sản của người đã chết.
Trước hết, cần xác định những người có chung quyền sử dụng đất tại thời điểm hình thành quyền sử dụng đất. Việc một người có tên trong hộ khẩu hoặc có quan hệ huyết thống với người đứng tên trên Giấy chứng nhận không tự động đồng nghĩa với việc người đó có quyền sử dụng đất chung.
Tiếp theo, cần xác định phần quyền sử dụng đất thuộc về người chết. Đây là căn cứ để xác định phạm vi di sản được đưa ra phân chia theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Nếu có di chúc, cần kiểm tra tính hợp pháp của di chúc, nội dung định đoạt di sản và quyền hưởng di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015.
Nếu không có di chúc hoặc thuộc trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, cần xác định người thừa kế theo Điều 649 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, đồng thời xem xét các trường hợp áp dụng Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015.
Việc xác định sai phần di sản hoặc sai người thừa kế có thể dẫn đến tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan.
5. Kết luận: Cách chia thừa kế khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình
Cách chia thừa kế khi Sổ đỏ đứng tên hộ gia đình có điểm khác biệt so với trường hợp nhà đất là tài sản riêng của người chết hoặc tài sản chung của vợ chồng. Vấn đề quan trọng nhất là phải xác định được những người có chung quyền sử dụng đất và phần quyền sử dụng đất thuộc về người đã chết trước khi tiến hành phân chia di sản.
Sau khi xác định được di sản, việc phân chia được thực hiện theo di chúc hợp pháp hoặc theo pháp luật tùy từng trường hợp. Khi chia theo pháp luật, cần xác định đúng hàng thừa kế và bảo đảm nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau theo quy định.
Công ty Luật TNHH New Key – Chi nhánh Khánh Hòa hỗ trợ tư vấn các vấn đề pháp lý về thừa kế nhà đất, xác định di sản, phân chia quyền sử dụng đất, giải quyết tranh chấp thừa kế và thực hiện thủ tục khởi kiện tại Nha Trang – Khánh Hòa.
Bạn có bất kỳ thắc mắc nào về pháp luật? Hãy inbox trực tiếp cho fanpage Luật New Key Nha Trang hoặc Luật Sư Nhật Hằng Chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ bạn!
Xem thêm các tin tức khác tại: Trang Tin Tức – Công ty Luật TNHH New Key



